dươngyáng(陽)
mặt trời, ánh sáng; phía nam núi, phía bắc sông; dương (đối lập với âm)
bộ阜(phụ)
Dễ nhầm阴
阳光 (yángguāng) là một từ tiếng Trung thuộc HSK4, đọc âm Hán-Việt là "dương quang", nghĩa tiếng Việt: ánh nắng; ánh mặt trời; tươi sáng (tính cách). Từ gồm 2 chữ: 阳 (dương) + 光 (quang), tổng cộng 12 nét.
danh từ
dươngyáng(陽)
mặt trời, ánh sáng; phía nam núi, phía bắc sông; dương (đối lập với âm)
bộ阜(phụ)
Dễ nhầm阴
quangguāng
ánh sáng; chỉ, hết sạch
bộ儿(nhân)
dương quang — Không phải từ tiếng Việt
Âm Hán-Việt đọc được, nhưng không phải từ tiếng Việt đang dùng.
Âm Hán-Việt 'dương quang' không phải là một từ tiếng Việt. Người Việt nói 'ánh nắng', 'ánh mặt trời'. Từ này còn dùng để khen tính cách: 阳光的男孩 là chàng trai tươi sáng, lạc quan.
阳 dương + 光 quang → dương quang
今天的阳光很好, người Việt dịch gọn thành "hôm nay nắng đẹp": một chữ nắng thuần Việt gánh trọn cái mà tiếng Trung phải ghép hai chữ Hán mới nói được. Khối dương quang thì đứng ngoài cửa — dù cả hai viên gạch bên trong nó người Việt vẫn cầm hằng ngày.
Chữ 阳 ta sở hữu rất chắc, chỉ là ở một tầng khác. Âm dương, dương lịch, dương gian, thái dương hệ, hướng dương — chữ dương của tiếng Việt chuyên vào chỗ trừu tượng hoặc trang trọng: triết học, lịch pháp, thiên văn, và cả loài hoa quay theo mặt trời mà tiếng Trung gọi bằng chữ khác, 向日葵. Chuyện nắng nôi ngoài sân thì ta không giao cho nó. Tiếng Trung đi ngược: 太阳 là mặt trời trong câu nói thường ngày, 阳光 là nắng, không mượn thêm từ nào.
Bộ thủ của 阳 là 阜 (phụ), viết thành 阝 bên trái, vốn là chuyện gò đống đất đai. Theo lối chiết tự truyền thống, mặt dương chính là sườn đồi hứng nắng, mặt khuất thì thành 阴 — cặp phạm trù lớn nhất của phương Đông khởi đi từ hai bên một quả đồi. Chữ 光 đứng sau chỉ chốt lại: thứ mà cái sườn ấy nhận được.
Chỗ dễ vấp là 阳光 không phải mặt trời. Nó là thứ mặt trời rót xuống, nên 阳光照进了房间 là nắng rọi vào phòng; muốn nói mặt trời mọc hay lặn thì phải gọi 太阳. Và nó làm được một việc mà chữ nắng không làm được: đứng sau 很 như một tính từ, 这个孩子很阳光. Dấu hiệu rất gọn — hễ trước 阳光 có 很, 太 hay 最, thì câu đang tả người chứ không tả trời.
阳 (dương) là mặt trời, phía có nắng; 光 (quang) là ánh sáng — ánh sáng mặt trời. Chữ 阳 có bộ 阜 (phụ, gò đất) viết dạng 阝 bên trái: sườn đồi hứng nắng chính là mặt 'dương'.
今天的阳光很好。
Jīntiān de yángguāng hěn hǎo.
Hôm nay nắng đẹp.
阳光照进了房间。
Yángguāng zhào jìn le fángjiān.
Nắng rọi vào trong phòng.
他喜欢在阳光下看书。
Tā xǐhuan zài yángguāng xià kànshū.
Anh ấy thích đọc sách dưới nắng.
这个孩子很阳光。
Zhège háizi hěn yángguāng.
Đứa bé này rất tươi sáng, vui vẻ.
冬天的阳光让人觉得暖和。
Dōngtiān de yángguāng ràng rén juéde nuǎnhuo.
Nắng mùa đông làm người ta thấy ấm áp.
阳光太强,你戴上帽子吧。
Yángguāng tài qiáng, nǐ dài shàng màozi ba.
Nắng gắt quá, bạn đội mũ vào đi.
Dữ liệu nét: Make Me A Hanzi / Arphic Technology — Arphic Public License